VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, XÓA BỎ ĐỊNH KIẾN GIỚI TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đó là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển của mỗi địa phương.

Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đặc biệt với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới năm 2006 và các hoạt động Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã giúp xã hội từng bước thực hiện thúc đẩy vấn đề Bình đẳng giới.

          Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: quyền quyết định số con, sinh con trai hay con gái… Sự quan tâm chia sẻ, giúp đỡ của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững.

Nhân tháng Hành động vì bình đẳng giới năm 2025 chúng ta cùng nhìn lại những “định kiến giới trong ca dao, tục ngữ Việt Nam”. Qua đó nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của định kiến giới lạc hậu đã và đang kìm hãm sự phát triển của xã hội nói chung và của phụ nữ nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc. Tuy nhiên đằng sau đó cũng chứa đựng những định kiến giới đặc biệt đối với phụ nữ. Hơn nữa, vấn đề bất bình đẳng giới trong xã hội hiện nay là điều không thể tránh khỏi. Nó đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt Nam, điều này đã vô tình kéo lùi sự phát triển của lịch sử xã hội, cản trở mục tiêu bình đẳng giới. Vì vậy trong thời đại ngày nay nó cần được xóa bỏ.

Định kiến giới là một hiện tượng tâm lý xã hội phổ biến, chúng gây nên những hậu quả tiêu cực cho cả nam và nữ. Sự hiện diện của nó là kết quả tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau: giáo dục, văn hóa, xã hội, pháp luật, truyền thống, đối xử trong gia đình, cộng đồng...

Lịch sử nhân loại đã chứng minh, từ xã hội còn lạc hậu đến thời văn minh, mỗi cá nhân được sinh ra, trưởng thành cho đến lúc từ biệt cõi đời đều gắn bó với gia đình, đó chính là mối dây tình cảm thiêng liêng để gắn kết mỗi cá nhân. Thế nhưng, trong cái bóng văn hóa phong kiến cổ hủ từ phương Bắc chụp xuống theo sau các đội quân xâm lược thì hủ nho: “Trọng nam khinh nữ” đã truyền khẩu tục ngữ như: “Nữ sinh ngoại tộc” hay “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Cũng vì tư duy áp đặt, quan niệm định kiến này đã tạo nên cảnh “làm trai năm thê bảy thiếp, đàn bà thì chí quyết một bề nuôi con”. Hủ nho cũng đề ra án lệ “tam tòng, tứ đức” để khống chế người phụ nữ, phải có tứ đức là “công, dung, ngôn, hạnh” và tam tòng là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

 Người phụ nữ Việt Nam đã đem sức lao động của mình đóng góp rất nhiều vào công việc sản xuất trong gia đình nhưng với gia đình và xã hội thì họ vẫn không được công nhận từ thời trẻ tới lúc già, dù có làm được bao nhiêu thì cũng đều là của cha, của chồng, tài sản trong gia đình đều do nam giới thừa kế, người phụ nữ có làm nhưng không có hưởng thụ mà luôn phải phụ thuộc.

Xã hội đã quá đề cao vai trò, vị trí của nam giới từ đó tạo nên sự bất bình đẳng giới rất trầm trọng. Xã hội đã quên đi vai trò của nữ giới, họ đã góp một vị thế quan trọng như thế nào trong xã hội bởi nếu không có phụ nữ thì lấy ai cáng đáng vai trò, trách nhiệm của người làm vợ, làm mẹ… một thiên chức vô cùng quý báu mà tạo hóa đã ban tặng vốn dành riêng cho phái nữ.

Quỹ phát triển vì phụ nữ của Liên hiệp quốc (UNIFEM) nhấn mạnh: “phụ nữ trên thế giới vẫn bị phân biệt trong mọi lĩnh vực”. Các chuyên gia UNFPA cũng đã từng khuyến cáo: “Phải tuyên truyền mạnh hơn nữa giá trị, vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội, cũng như cái tâm của con người, bất kể nam hay nữ”.

Trong gia đình, giáo dục của ông bà, cha mẹ, anh chị xuất phát từ mong muốn con cháu mình biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau… Tuy nhiên trong việc giáo dục trẻ, giáo dục gia đình luôn tuân theo những khuôn mẫu quy định đối với từng giới. Chẳng hạn với trẻ trai, bố mẹ thường dạy trẻ sống phải có bản lĩnh, can đảm. Đối với trẻ gái phải dịu dàng trong giao tiếp, ứng xử …

Rõ ràng, ảnh hưởng của nếp nghĩ truyền thống về người đàn ông phải mạnh mẽ (liên quan đến việc chỉ huy, ra lệnh); người phụ nữ phải dịu dàng, đảm đang (liên quan đến việc vâng lời) có sức sống dai dẳng, bền bỉ, bám chặt vào tư tưởng của các bậc cha mẹ. Thực tiễn cho thấy, trẻ phải chịu áp lực rất lớn từ những quan niệm trên, các em phải tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những khuôn mẫu cụ thể của từng giới. Xem xét cơ hội tiếp cận nguồn lực giáo dục, chúng ta thấy có sự đầu tư khác nhau giữa trẻ trai và trẻ gái của các bậc cha mẹ. Điều này xuất phát từ định kiến giới vì họ cho rằng con trai có năng lực lao động và cơ hội thành đạt cao hơn so với con gái.

Điều này tạo ra sự khác nhau trong hành vi đối xử của họ đối với trai và gái. Chính vì vậy, các gia đình phải hiểu rõ những vấn đề trên để có hướng giáo dục con em mình (bất kể nam hay nữ) một cách tốt nhất nhằm phát triển toàn diện nhân cách trẻ em.

Hơn nữa, nhiều phụ nữ nhất là chị em vùng dân tộc thiểu số còn chịu nhiều thiệt thòi. Ở đó phụ nữ còn bị vi phạm pháp luật như nạn cưới tảo hôn, bị bạo hành, bị xâm hại tình dục; số phụ nữ không được đi học, khó khăn về kinh tế còn cao. Vì vậy, để phát huy vai trò của phụ nữ, cần tập trung nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới thông qua việc tôn vinh những phụ nữ điển hình, phê phán những biểu hiện phân biệt đối xử nam nữ. Tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ thông qua việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về giới, nhất là giúp phụ nữ nghèo, phụ nữ ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được phổ cập, đào tạo nghề, tiếp cận thông tin… Chỉ có giúp họ nâng cao kiến thức thì giới nữ mới có điều kiện “sánh vai bình đẳng” cùng nam giới. Chúng tôi nghĩ rằng trong quá trình truyền thông có thể đưa vào những bài phân tích ca dao, tục ngữ từ góc độ định kiến giới để góp phần giảm thiếu tác động của vấn nạn này.

Thực chất của bình đẳng giới chính là bảo đảm sự bình đẳng của nữ giới với nam giới trong việc được thừa nhận các quyền con người và có các cơ hội, điều kiện để hưởng thụ các quyền đó. Vậy nên bình đẳng giới được xác định là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ đối với cuộc sống và sự phát triển của phụ nữ, mà còn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà nói chung và của xã Tân Hội nói riêng./.

Thu Quỳnh